Nguyễn Đức Thụ - Người làm kinh tế giỏi

Anh Nguyễn Đức Thụ - Giám đốc công ty TNHH Hoàng Kim, người mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân nuôi trồng thủy sản tại xã Đoan Hạ, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, .

Cá lăng tự nhiên

Cá lăng là loài cá da trơn sống sống chủ yếu ở các sông suối lớn của miền tây xứ Nghệ. Loài cá này mấy năm trở lại đây được tôn làm vua trong hàng đặc sản, giá bán 650 700 ngàn đồng/kg.

Kỹ thuật nuôi cá chim trắng nước ngọt

Cá chim trắng nước ngọt là loại cá nhiệt đới, có nguồn gốc ở lưu vực sông Amzon thuộc Nam Mỹ. Cá có hình dạng gần giống cá chim biển. Thân đẹp và cao, đầu nhỏ, chiều dài thân gấp 2 lần chiều cao thân, mình cá màu xám bạc hoặc màu ánh bạc hơi xanh.

Cá rô phi

Cá rô phi quá quen thuộc với dân ta. Ở đâu cũng nuôi rô phi. Nó được nuôi trong ao, trong hồ, trong lồng bè và cả trong ruộng lúa nữa. Cá rất dễ nuôi, dễ sống, dễ thích nghi.

Dễ nuôi như cá trắm cỏ

Cá trắm cỏ tuy không phải là loài cá có chất lượng cao nhưng lại được bà con ta nuôi nhiều vì nó dễ nuôi và mau lớn. Nó là loài cá nước ngọt, thường được thả nuôi ở ao, hồ hoặc nuôi trong lồng, bè trên sông.

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015

Phú Thọ: Người làm kinh tế giỏi

Tại xã Đoan Hạ, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, hỏi anh Nguyễn Đức Thụ - Giám đốc công ty TNHH Hoàng Kim thì không ai là không biết. Rất nhiều người biết đến anh như một hình mẫu người làm kinh tế giỏi tại xã.
Anh Thụ bên lồng nuôi cá trên sông Đà. Ảnh: Công Xuân
     Khoảng 10 năm về trước, gia đình anh là một trong những hộ nghèo của xã Đoan Hạ, huyện Thanh Thủy. Là người anh cả trong gia đình có ba anh em, gánh nặng cuộc sống dường như đè nặng lên đôi  vai anh. Với sự quyết tâm xóa cái nghèo, anh đã tìm mọi cách để phát triển kinh tế gia đình. Trong quá trình đó phải kể đến chị Kim - người vợ hiền tần tảo và anh Đông - cậu em vợ năng động, đầy nhiệt huyết luôn sát cánh bên anh những lúc khó khăn nhất. Ở thời điểm hiện tại, gia đình anh đã phát triển mô hình trang trại gia đình về chăn nuôi. Trại lợn của anh có vài nghìn con và hơn một hecta mặt nước ao trong trang trại nuôi rất nhiều cá các loại như cá chép, cá quả, diêu hồng, cá trê...đã mang lại cho gia đình anh nguồn thu nhập đáng kể.
Trại lợn nái của gia đình anh Thụ. Ảnh: Công Xuân
Không chịu dừng lại ở đó, anh tiếp tục “tấn công” ra sông Đà - nơi có nguồn nước dồi dào và tiềm năng phát triển kinh tế rất lớn. Nhận thấy sông Đà là nơi lý tưởng để phát triển kinh tế nuôi trồng thủy sản. Và hình thức anh chọn là nuôi cá lồng. Thời điểm ban đầu anh gặp rất nhiều khó khăn do thiếu kĩ thuật nuôi cá trên sông nên gia đình anh chỉ đầu tư 6 lồng cá, chủ yếu là nuôi những giống bản địa. Qua thời gian không ngừng học hỏi với kinh nghiệm và số tiền tích góp, nay anh  đã có trên 10 lồng với nhiều loại cá đặc sản như: cá lăng, cá diêu hồng, cá trắm... mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Lồng cá diêu hồng sông Đà của gia đình anh Thụ. Ảnh: Công Xuân
Anh Thụ cho biết: “Hộ có điều kiện thì làm lồng bằng khung sắt, lưới B40 và phao nhựa. Còn hộ ít vốn thì tận dụng những cây tre, cây luồng trên rừng để làm lồng. Tùy theo kích cỡ lồng mà thả thật độ phù hợp, tránh thả quá dày. Điều đặc biệt tích cực là nuôi cá ở dòng nước chảy như sông Đà ít xảy ra dịch bệnh nên rất an toàn, bền vững. Hơn thế nữa cá nuôi lồng nhanh lớn, cho chất lượng cao, bán được giá, nhanh thu hồi vốn, đồng thời sử dụng ít lao động...". Dẫn chúng tôi tham quan quanh khu vực nuôi cá, được anh giới thiệu về nhiều loài cá có giá trị kinh tế cao. Nhìn khu nuôi cá quy mô như vậy, hứa hẹn sắp có những lứa cá bội thu.
Tùy vào loại cá mà nuôi 1 năm/1 lứa hoặc 1 năm/2 lứa. Bình quân năng suất thu được hơn 2 tạ cá/lồng. Cá thương phẩm xuất bán đạt 2 - 3 kg/con (cá trắm cỏ), 3- 3,5kg/con (cá lăng), 1 - 1,5 kg (cá diêu hồng). Một năm từ việc nuôi cá lồng trừ chi phí gia đình anh thu về trên dưới 100 triệu đồng”.
Lồng cá lăng sông Đà của gia đình anh Thụ. Ảnh: Công Xuân
Không chỉ chú tâm phát triển kinh tế gia đình, anh Thụ còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội do địa phương phát động; sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ với những hoàn cảnh khó khăn, trao đổi kinh nghiệm làm ăn với các hội viên hội nông dân và bà con lối xóm, được nhiều người trong thôn xã tin yêu, quý trọng. Tuy nhiên, để có thành quả như hôm nay, gia đình anh Thụ đã trải qua biết bao khó khăn, thậm chí cả thất bại. Nhưng với ý chí không ngại vượt khó để vươn lên, ý thức trách nhiệm của người chủ gia đình, anh đã tự tìm tòi phương thức sản xuất thích hợp với cách chọn con vật nuôi đúng hướng để từng bước phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn và làm điểm trình diễn thí điểm cho bà con địa phương học hỏi
 Từ những thành công bước đầu của gia đình anh về mô hình nuôi cá lồng trên sông Đà, đã mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân nuôi trồng thủy sản nơi đây, góp phần giúp ngành thủy sản từng bước hướng tới sản xuất hàng hóa có giá trị cao và bền vững./.

Kỹ thuật nuôi cá Chim trắng nước ngọt


Đặc điểm sinh thái của các Chim trắng nước ngọt. Hướng dẫn kỹ thuật ương nuôi cá Chim trắng từ cá hương lên cá giống. Kỹ thuật nuôi cá thịt: ao nuôi, thả cá, mật độ, quản lý chăm sóc, phòng trừ bệnh hại và thu hoạch cá.


 Cá chim trắng nước ngọt là loại cá nhiệt đới, có nguồn gốc ở lưu vực sông Amzon thuộc Nam Mỹ. Cá có hình dạng gần giống cá chim biển. Thân đẹp và cao, đầu nhỏ, chiều dài thân gấp 2 lần chiều cao thân, mình cá màu xám bạc hoặc màu ánh bạc hơi xanh. Các vây ngực, vây bụng, vây hậu môn màu đỏ. Cá sống ở tầng giữa và dưới, hay sống và bơi thành đàn. Nuôi trong ao rất dễ đánh bắt, ngay mẻ lưới đầu có thể đánh bắt tới 90% số lượng cá trong ao.
Cá chim trắng nước ngọt là loại cá nhiệt đới, có nguồn gốc ở lưu vực sông Amzon thuộc Nam Mỹ. Cá có hình dạng gần giống cá chim biển. Thân đẹp và cao, đầu nhỏ, chiều dài thân gấp 2 lần chiều cao thân, mình cá màu xám bạc hoặc màu ánh bạc hơi xanh. Các vây ngực, vây bụng, vây hậu môn màu đỏ. Cá sống ở tầng giữa và dưới, hay sống và bơi thành đàn. Nuôi trong ao rất dễ đánh bắt, ngay mẻ lưới đầu có thể đánh bắt tới 90% số lượng cá trong ao.
Cá ăn tạp, phổ thức ăn rộng, gồm nhiều loại rau trên cạn và dưới nước, các vỏ hoa quả, hạt ngũ cốc, mùn bã hữu cơ… Thức ăn động vật gồm: Nhộng tằm, tôm cá nhỏ, ốc, hến, thịt phế phẩm…

Nuôi trong ao, cho ăn đủ cá lớn nhanh, giá trị thương phẩm cao hơn các loại cá nuôi truyền thống hiện nay.

I - Kỹ thuật ương từ cá hương lên cá giống
1 - Chuẩn bị ao:
- Ao có diện tích thích hợp: 500 - 1.000 m2, độ sâu 1,2 - 1,5m.
- Tháo cạn, vét bùn để lớp bùn đáy dày 10 - 15 cm. Sửa bờ cống, lấp hết hang hốc.
- Dùng vôi bột tẩy trùng, lượng 7 - 10 kg/100m2
- Lấy nước vào ao (qua lưới lọc) từ 50 - 60 cm.
- Bón phân gây mầu:
Phân chuồng ủ hoại: 30 - 50 kg/100m2
Phân xanh: 30 - 50 kg/100m2
Sau 4 - 5 ngày lọc thêm nước vào ao đạt mức 0,8 - 1m mới thả cá.
2 - Thả cá:
- Chọn cá khoẻ, cỡ đều, mầu sắc sáng bóng không xây sát, dị hình…
- Cá có kích cỡ 1 - 2cm, thả với mật độ 25 - 40 con/m2.
- Thả vào sáng sớm hoặc chiều mát.
3 - Chăm sóc và quản lý:
a) Cho cá ăn:
- Bằng thức ăn công nghiệp dạng viên, hoặc bằng thức ăn chế biến dạng bột có hàm lượng đạm từ 30 - 35%.
- Lượng cho ăn mỗi ngày bằng 10 - 15% trọng lượng cá trong ao.
- Cho ăn vào sáng sớm và chiều tối theo giờ ổn định trong ngày.
- Qui định nơi cho ăn và làm sàn ăn cho cá.
b) Bón phân:
- Dùng phân chuồng ủ hoại, rải đều xung quanh ao. Lượng 6 - 7 kg/100m2/ lần. Tuần bón 2 lần.
- Điều chỉnh mầu nước, kiểm tra các yếu tố môi trường và phòng trị bệnh cho cá.
4 - Thu hoạch: Khi cá đạt cỡ 6 - 8cm thu hoạch để nuôi cá thịt
- Ngừng cho cá ăn trước một ngày.
- Thu hoạch vào sáng sớm. Dùng lưới kéo 2/3 lượng cá trong ao. Sau đó rút bớt nước thu toàn bộ.
II - Nuôi cá thịt: Có nhiều hình thức nuôi (ghép hoặc đơn)
1 - Chuẩn bị ao: (như phần ương cá) chú ý:
Đảm bảo độ pH của nước ao ổn định 5,5 - 7,4. Cá ưa sống ở vùng nước hơi chua.
- Độ trong của nước ao: 20 - 30 cm.
- Lượng oxy hoà tan từ 4 - 6mg/lít.
2 - Thả cá:
- Cá giống trước khi thả phải được tắm bằng nước muối nồng độ 3% thời gian 3 - 5 phút.
- Cá khoẻ, không xây xát, không mang mầm bệnh.
- Thả vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.
3 - Mật độ: Theo công thức
+ Công thức 1: Nuôi cá chim trắng là chính.
- Mật độ thả: 2 - 3con/m2
- Tỷ lệ ghép như sau: Cá chim trắng: 70 %, cá mè trắng 5%, cá trôi ấn: 10%, cá rô phi đơn tính: 10%, cá chép: 2%, cá mè hoa: 3%.
+ Công thức 2: Cá chim trắng là loài cá nuôi phụ.
- Mật độ thả các loại cá chung 2 - 3 con/m2.
- Đối tượng ghép là các loài cá mè trắng, mè hoa, cá trôi, rô phi đơn tính, cá chép.
- Tỷ lệ ghép: Cá chim trắng 10 - 15% tổng đàn.
4 - Quản lý và chăm sóc:
a) Cho cá ăn:
- Thức ăn công nghiệp dạng viên chìm, hàm lượng đạm 25 - 27%. Hoặc sử dụng thức ăn phối chế: cám gạo, ngô, khoai, các loại rau bèo… và 20 - 25% hàm lượng đạm: cá vụn, tép…
- Lượng thức ăn mỗi ngày bằng 5 - 7% tổng lượng cá trong ao cho ăn vào 9 giờ sáng và 4 giờ chiều. Thức ăn được đặt vào giàn ăn ở nhiều điểm cố định. Hàng ngày kiểm tra giàn ăn để điều chỉnh tăng giảm lượng thức ăn cho cá.
- Bón phân gây màu nước: Tuần bón một lần phân chuồng 25 - 30 kg/100m2.
b) Quản lý ao:
- Thường xuyên quan sát tình hình hoạt động của cá.
- Tuần cấp nước vào 1 lần, mỗi lần dâng nước cao từ 20 - 30cm.
- Kiểm tra cống, bờ và thường xuyên giữ mức nước ổn định từ 1,2 - 1,5 m.
Cá chim trắng là loài cá hiền, ăn theo đàn dễ bị đánh bắt cần phải có biện pháp bảo vệ tốt.
5 - Các biện pháp phòng và trị bệnh:
a) Phòng bệnh: - Tẩy và khử trùng ao đúng kỹ thuật.
- Tuyệt đối không nuôi cùng với cá trắm cỏ.
- Khu vực góc ao và chỗ cho cá ăn nên treo túi thuốc sát trùng 100 g Chlorin.
b) Bệnh cá: Qua nuôi ở nhiều cơ sở chưa thấy cá chim trắng mắc bệnh. Song theo tài liệu của Trung quốc mùa đông cá thường mắc bệnh: Trùng quả dưa, trắng da, loét mang, trùng bánh xe.v.v… Khi cá bị bệnh bà con nên gặp cán bộ kỹ thuật để có biện pháp xử lý.
6 - Thu hoạch:
Cá nuôi sau 4 - 6 tháng đạt cỡ 0,5 - 0,7 kg/con trở lên thì thu tỉa đàn cá lớn. Cuối tháng 01 thu toàn bộ, nên thu hoạch trước mùa đông.

Người đầu tiên nuôi cá tầm trên hồ Thủy điện Sơn La


Chị Lợi trong trang trại nuôi cá tầm trên hồ Thủy điện Sơn La.
Điều ít ai ngờ, người đầu tiên nuôi cá tầm trên hồ Thủy điện Sơn La lại là một phụ nữ đã ngoài 50. Chỉ đúng một năm trước, chị đã “dám thả ba tỷ tiền cá xuống hồ” để đến nay mở ra một hướng làm giàu mới cho đồng bào nơi đây.
Người con gái tiên phong quê lúa
Sinh ra trong một gia đình thuần nông nghèo tại vùng quê lúa huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, chị Vũ Thị Hạnh Lợi là con gái đầu trong một nhà đông em. Ngay khi bước sang tuổi 18, người chị cả đảm đang đã quyết định thoát ly gia đình để tìm hướng làm giàu ở vùng cao tỉnh Yên Bái. Chưa đầy 30 tuổi, chị đã một mình lắp bè buôn cá trên sông Đà hùng vĩ. Nhớ về những ngày lập nghiệp, chị cười kể tiếp, sau nhiều năm làm nhà nước, chị xin về nghỉ hưu sớm, để gây dựng Hợp tác xã kinh doanh, mua bán thủy sản ngay trên dòng sông Đà tại khu vực huyện Tân Phong tỉnh Lai Châu. Hiện chị Vũ Thị Hạnh Lợi đang Chủ nhiệm HTX Hạnh Lợi, huyện Quỳnh Nhai.
Chị Lợi kể, sau khi thủy điện Sơn La đóng cửa đập, chị chuyển sang nuôi cá đặc sản ở Lai Châu, nhưng hiệu quả không cao. Sau nhiều tháng ngày trăn trở, chị đã tìm hiểu những mô hình nuôi cá tầm của một số DN trong và ngoài tỉnh học tập kinh nghiệm. Tiếp đó, qua sưu tầm tài liệu trên sách báo, qua các trang mạng, và đặc biệt nhờ được tham gia nhiều cuộc Hội thảo do Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) về nuôi cá tầm trong lòng hồ thủy điện, chị Lợi đã quyết tâm chuyển hướng tập trung vào nuôi cá tầm quy mô lớn.
Nghĩ là làm, trước tiên chị đau đáu tìm địa điểm thích hợp để nuôi được cá tầm. Khi đến khu vực chân cầu Pá Uôn huyện Quỳnh Nhai, thấy mặt nước rộng mênh mông, nước sâu và trong xanh, cộng thêm nhiệt độ quá lý tưởng, chị Lợi biết mình đã gặp được nơi muốn tìm nên quyết định đưa toàn bộ bè cá từ Lai Châu xuôi dòng xuống xây dựng mô hình trang trại nuôi cá tầm tại Sơn La.

Hòa Bình: Làm giàu từ nuôi cá lồng trên sông Đà

Nằm trong khu vực miền núi phía Bắc, Hòa Bình có nhiều tiềm năng và lợi thế về phát triển thủy sản như hệ thống sông ngòi, ao, hồ nhiều được phân bố khá đều. Tận dụng lợi thế này, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư phát triển mô hình nuôi cá lồng trên vùng hồ sông Đà đã đem lại nguồn thu nhập lớn cho người dân nơi đây.
Điển hình như hộ gia đình ông Xa Văn Chính – ông không chỉ là người lãnh đạo (Chủ tịch UBND xã Hiền Lương (huyện Đà Bắc) chỉ đạo bà con mà còn cùng họ bắt tay vào phát triển mô hình nuôi cá lồng trên sông. Gia đình ông đầu tư 9 lồng được đặt gần bến Hiền Lương.
Ông Chính cho biết: “Hộ có điều kiện thì làm lồng bằng khung sắt, lưới và phao nhựa. Còn hộ ít vốn thì tận dụng những cây tre, cây luồng trên rừng để làm lồng. Tùy theo kích cỡ lồng mà thả thật độ phù hợp, tránh thả quá dày. Đặc biệt, nuôi cá ở lòng hồ ít xảy ra dịch bệnh nên rất an toàn, bền vững. Tùy vào loại cá mà nuôi 1 năm/1 lứa hoặc 1 năm/2 lứa. Bình quân năng suất thu được hơn 2 tạ cá/lồng. Cá thương phẩm xuất bán đạt 2 - 3 kg/con (cá trắm cỏ), 0,8- 1kg/con (rô phi đơn tính), 2 - 3,5 kg (trê lai). Một năm từ việc nuôi cá lồng trừ chi phí gia đình ông thu về trên dưới 100 triệu đồng”.
Lồng nuôi cá trên sông Đà. Ảnh Công Xuân
Từ sự mạnh dạn đi đầu của Chủ tịch UBND xã - Xa Văn Chính, nhiều hộ đã làm theo và đem lại hiệu quả. Đến nay, toàn xã đã có tổng số 179 lồng nuôi cá tập trung ở các xóm thuộc vùng hồ là Doi, Dưng, Mơ, Ké. Các loài cá được nuôi như trắm cỏ, cá chiên, trê lai, rô đơn tính, cá bỗng, cá nheo...Sản lượng bình quân mỗi lồng nuôi cá thu hoạch từ 2 đến 2,5 tạ cá/lồng, sau khi trừ chi phí đầu tư thu lãi khoảng 7 đến 10 triệu đồng/lồng. Nhờ phát triển nghề nuôi cá lồng đã góp phần quan trọng vào việc xóa đói, giảm nghèo cho người dân, giúp họ có cuộc sống ổn định và nhiều hộ đã vươn lên làm giàu.
Rời xã Hiền Lương chúng tôi có chuyến lên thăm mô hình cá lồng ở xã Thung Nai (huyện Cao Phong). Đó là mô hình cá lồng của gia đình anh Trần Văn Tín, mô hình của anh được mọi người đánh giá là rất “quy mô và hoành tráng”. Từ bờ ra tới khu vực nuôi cá của anh cũng mất vài cây số đi bằng thuyền. Khi bước chân lên lồng bè, cảm nhận những chiếc lồng rất kiên cố bởi trên bề mặt lối đi hàn bằng những tấm sắt, còn khung lồng được hàn, nối bằng những ống tuýp nước nên rất vững chắc. Gặp anh Trần Văn Thắm – người quản lý trang trại nuôi cá cho biết: “Chủ trang trại này là anh Trần Văn Tín là người có “tên tuổi” trong phát triển nghề nuôi cá lồng ở sông Kinh Thầy tại tỉnh Hải Dương. Lên đây phát triển nghề cá lồng tại vùng lòng hồ sông Đà. Để có được những lồng bè như bây giờ, anh Tín đã bỏ số vốn rất lớn tính bằng tiền tỷ, với 100 lồng và đưa vào sử dụng được gần một nửa. Dự tính cuối năm nay cũng đưa vào sử dụng nốt. Cá ở đây đủ loài, từ những loài thường nuôi như cá rô phi, cá chép, cá trắm, trắm ốc…cho đến những loài đặc sản như cá ngạnh vàng, ngạnh sông, cá lăng chấm, lăng vàng, điêu hồng…Dẫn chúng tôi tham quan quanh khu vực nuôi cá, được anh giới thiệu về nhiều loài cá cò giá trị kinh tế cao. Nhìn khu nuôi cá quy mô như vậy, hứa hẹn sắp có những lứa cá bội thu.
Ưu điểm nổi bật của nuôi cá lồng là tiết kiệm được diện tích mặt nước, ngoài ra, do lưu lượng nước thay đổi liên tục nên môi trường nuôi cá trên lòng hồ sạch hơn, vì thế cá ít bị nhiễm bệnh, năng suất cao.
Từ những thành công bước đầu của một số mô hình nuôi cá lồng trên sông, đã mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân nuôi trồng thủy sản nơi đây, góp phần giúp ngành thủy sản từng bước hướng tới sản xuất hàng hóa có giá trị cao và bền vững./.
Nguồn: Khuyến nông quốc gia (20/11/2013)

Nuôi cá lồng trên sông - Mô hình phát triển kinh tế hiệu quả

Những năm gần đây, người nông dân đã biết tận dụng mặt nước trên sông để phát triển nghề nuôi cá lồng, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng. Tuy nhiên, để hướng đến mục tiêu phát triển nuôi cá lồng theo hướng bền vững, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm thì việc tháo gỡ những khó khăn và mở ra một hướng đi mới cho nghề nuôi cá lồng trên sông cũng là điều các ngành, các cấp trên địa bàn tỉnh cần quan tâm thực hiện.

Mô hình nuôi cá lồng của gia đình anh Nguyễn Đạo Luật Chí, khu 4, xã Bảo Yên 

Theo giới thiệu của cán bộ phòng Nông nghiệp &PTNT huyện Thanh Thủy, chúng tôi đến thăm mô hình nuôi cá lồng của gia đình anh Nguyễn Đạo Luật Chí, khu 4, xã Bảo Yên, anh cho biết: Sau khi được tham gia lớp tập huấn kỹ thuật về cách nuôi và chăm sóc cá lồng trên sông, gia đình anh đầu tư đóng 15 lồng bè với 1.500m3, thả cá trắm đen, cá điêu hồng, cá lăng chấm. Trong đó, anh thả 5 lồng cá điêu hồng, mỗi năm cho thu hoạch 2 lần với thu nhập 1 tỷ đồng/năm trừ chi phí. Còn cá lăng chấm hơn 1 năm mới cho thu hoạch nhưng lợi nhuận cũng khá cao (bình quân 150.000 đồng/kg mà mỗi 1 lồng đến kỳ thu hoạch khoảng 4 tấn cá). Còn anh Nguyễn Hoài Văn, khu 8, xã Xuân Lộc, một trong những hộ nuôi cá lồng đầu tiên cho biết: Gia đình anh có 20 lồng nuôi cá bằng tre và sắt. Đối với lồng sắt, gia đình anh đầu tư khoảng gần 20 triệu đồng/lồng, còn lồng tre khoảng gần 10 triệu đồng/lồng. Nhờ thả nuôi nhiều loại cá khác nhau như cá trắm, cá rô phi, cá điêu hồng, cá lăng nên gia đình anh có thu nhập ổn định với mức lãi khoảng gần 130 triệu đồng cho một vụ cá khoảng 5 – 6 tháng.

Nuôi cá lồng trên sông không phải là mới đối với các hộ dân giáp sông Đà như gia đình anh Chí, anh Văn nhưng chủ yếu các hộ nuôi theo hình thức tự phát, ít kinh nghiệm, chưa đầu tư nhiều nên hiệu quả kinh tế không cao. Từ năm 2013 trở lại đây có sự vào cuộc của các cấp chính quyền tổ chức cho cán bộ đi học tập kinh ngiệm để về hướng dẫn bà con nông dân từ khâu làm lồng nuôi đến công tác chăm sóc quản lý cá trong từng giai đoạn sinh trưởng như: Kiểm tra thức ăn và lượng cá ăn hằng ngày để điều chỉnh cho phù hợp, theo dõi hoạt động của cá; kiểm tra lồng thường xuyên tránh việc rò rỉ thất thoát, vệ sinh lồng định kì tạo thông thoáng nước trong lồng để tăng hàm lượng ôxy trong nước và chống kí sinh trùng cho cá; theo dõi tốc độ lớn để tách đàn phù hợp, tạo điều kiện để cá phát triển đều; bổ sung khoáng chất, thuốc phòng ngừa dịch bệnh cho cá khi cần thiết… Nhờ vậy số lồng nuôi cá trên sông đã tăng lên nhanh chóng, mang lại thu nhập ổn định cho người nông dân.

Xã Quang Húc (huyện Tam Nông) là xã có dòng sông Bứa chảy qua, để tận dụng tiềm năng này, người dân trong xã được định hướng từ phía Chi cục Thủy sản và Trung tâm Khuyến nông tỉnh đưa mô hình nuôi cá lồng vào làm phát triển kinh tế trọng điểm. Tính đến năm 2014, quy mô nuôi cá lồng của xã đã đạt trên 150 lồng mang lại thu nhập hàng trăm triệu đồng cho hàng trăm hộ dân của xã.

Anh Vũ Văn Hợp, khu 5, xã Quang Húc cho biết: Sau khi đi tham quan học hỏi cách nuôi cá lồng ở tỉnh Hải Dương, gia đình đã đầu tư hơn 100 triệu đồng để đóng 5 lồng cá. Vụ đầu tiên gia đình thả 1,2 vạn con cá lăng và 1,7 vạn cá rô phi đơn tính, với thức ăn cho cá là cám công nghiệp. So với cách nuôi truyền thống thì nuôi theo phương pháp công nghiệp hiệu quả cao hơn nhiều lần, trung bình mỗi năm thu được 200 triệu đồng/lồng. Đầu năm 2014, anh phát triển lên 20 lồng cá và hiện đang làm thêm 20 lồng cá nữa, nâng tổng số lên 40 lồng, dự kiến cho thu hoạch lãi gấp 3,4 lần lúc nuôi 5 lồng.

Trao đổi về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Đông, Chủ tịch UBND xã Quang Húc cho biết: Nghề nuôi cá lồng phát triển mạnh đã góp phần không nhỏ trong việc tận dụng điều kiện tự nhiên, chuyển đổi cơ cấu sản xuất của địa phương, giúp người dân tăng thu nhập, tạo sự đa dạng ngành nghề ở nông thôn. Đặc biệt thu nhập từ cá lồng mang lại hiệu quả cao. Với thời gian từ 1 đến gần 2 năm nuôi, 1 lồng nuôi cá lăng chấm có thể cho thu 7 - 8 tấn, với giá bán từ 120.000 - 130.000 đồng/kg, sẽ đạt thu nhập trên 1 tỷ đồng, trừ chi phí con giống, thức ăn vẫn cho thu về vài trăm triệu đồng. Cũng theo ông Đông, những hộ nuôi cá lồng khẳng định, lãi từ việc nuôi cá lồng là có, song khó khăn trong việc phát triển cá lồng cũng rất lớn và rất khó làm. Chỉ tính riêng chi phí đầu tư vào thức ăn công nghiệp đã chiếm một khoản không nhỏ. Hiện trên thị trường giá cám vào khoảng 400.000 đồng/bao. Bình quân mỗi lồng cá chi phí khoảng 200 đến 400 triệu đồng tiền thức ăn, chưa kể đến đầu tư làm lồng. Như vậy, nếu người nuôi không có nguồn vốn lớn thì nuôi cá lồng không dễ chút nào. Vì thế, những hộ nuôi cá lồng mong muốn các cấp, các ngành quan tâm, giúp đỡ về vốn để mở rộng đầu tư cho nghề nuôi cá lồng này.

Phú Thọ là tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế cho phát triển nuôi thủy sản với 3 con sông lớn chảy qua là sông Thao, sông Đà, sông Lô và nhiều sông nhỏ, ngòi lớn như sông Bứa, Ngòi Lao, Ngòi Giành… có trên 600 hồ, đập với trên 20.000 ha diện tích mặt nước. Nhằm tận dụng nguồn tiềm năng mặt nước sẵn có, tỉnh Phú Thọ đã xác định và đưa sản xuất thủy sản là một chương trình nông nghiệp trọng điểm, đồng thời đã có những chính sách hỗ trợ mang tính đột phá để phát triển nuôi cá lồng, bè. Theo thống kê từ Sở Nông nghiệp & PTNT, tính đến hết năm 2014, toàn tỉnh có khoảng gần 600 lồng cá, trong đó có 300 chiếc lồng lưới, gồm 60 chiếc trên sông Đà, 46 chiếc trên sông Lô, 166 chiếc trên sông Bứa… Tổng diện tích nuôi lồng lên đến 35.600m3, với sản lượng ước đạt 2.200 tấn (tăng 15 lần so với năm 2012).

Theo ông Nguyễn Thanh Tùng - Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản: Sự phát triển quá nhanh của nghề nuôi cá lồng trên sông sẽ phát sinh nguy cơ ảnh hưởng đến việc phát triển thủy sản chung, đặc biệt là việc phòng chống dịch bệnh cho cá và vấn đề môi trường. Đa phần người nuôi mới chỉ đi học tập kinh nghiệm ở một số địa phương, chưa qua các lớp tập huấn, nên kinh nghiệm chăm sóc, phòng chống dịch bệnh, xử lý chất thải... còn thiếu. Vì thế, phải tính đến phương án phát triển bền vững, tránh kiểu nuôi ồ ạt, khi thị trường không ổn định lại phá bỏ sẽ thiệt hại không nhỏ cho người sản xuất. Đồng thời, để phát triển cá lồng một cách bền vững thì cần phải có sự quy hoạch chi tiết đối với từng địa phương và phổ cập kỹ thuật chăn nuôi cho người dân, người nuôi cá. Cán bộ kỹ thuật thủy sản phải có kiến thức cơ bản trong quá trình chăm sóc cho cá lồng. Cần quy hoạch vùng nuôi, quản lý nguồn nước, tăng cường cán bộ kỹ thuật, nhất là kỹ sư thú y chuyên về thủy sản. Mở thêm các lớp tập huấn kỹ thuật chăm sóc, phòng chống dịch bệnh thủy sản. Tạo điều kiện cho người có nhu cầu vay vốn với lãi suất thấp để đầu tư mở rộng sản xuất, ổn định cho nghề nuôi cá lồng phát triển bền vững.
                                                                                                                                                                   Theo http://phutho.gov.vn/

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2015

Liên hệ



Chuyên cung cấp sản lượng lớn thủy sản như: Cá lăng, cá trắm cỏ, cá diêu hồng, cá rô phi...
Liên hệ: 
Công ty TNHH Hoàng Kim
Địa chỉ: xã Đoan Hạ, huyện Thanh Thủy, Phú Thọ
Điện thoại:  Anh Thụ 0982130020
                    Chị Kim 0983194498

Nuôi cá điêu hồng trong lồng trên sông Đà


Năm 2014, Chi cục Thủy sản Phú Thọ phối hợp với Phòng NN&PTNT huyện Thanh Thủy triển khai mô hình “Nuôi cá điêu hồng trong lồng trên sông”, nguồn kinh phí của dự án khuyến nông trung ương.

Mô hình được thực hiện tại cáchộ dân ở xã Đoan Hạ, huyện Thanh Thủy, với quy mô 100 m3, số lượng thả giống 10.000 con, kích thước giống 8 - 10 cm/con.
Mô hình nuôi cá điêu hồng gia đính anh Thụ, xã Đoan Hạ, huyện Thanh Thủy - Ảnh: Công Xuân
Kết quả sau 3 tháng nuôi, cá đạt kích cỡ trung bình 520 g/con, tỷ lệ sống đạt 95%. Dự kiến sau 5 tháng nuôi, cá đạt kích cỡ 800 g/con, tỷ lệ sống 90%. Như vậy, sản lượng dự kiến đạt trên 7 tấn/100 m3, với giá bán hiện nay 56.000 đồng/kg, mô hình sẽ cho lãi 150 triệu đồng (chưa tính nhân công).
Từ năm 2012, từ dự án của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Chi cục Thủy sản Phú Thọ đã xây dựng mô hình nuôi cá điêu hồng trong lồng trên hồ chứa tại địa bàn huyện Hạ Hòa, nhận thấy mang lại giá trị kinh tế cao nên Chi cục tiếp tục cho nhân rộng trên địa bàn tỉnh. Đến nay, tỉnh đã có hơn 40 lồng lưới: 25 lồng tại huyện Hạ Hòa, 10 lồng tại huyện Tâm Sơn và huyện Tam Nông 10 lồng.

Cá lăng tự nhiên

Cá lăng Sông Đà
Cá lăng là loài cá da trơn sống sống chủ yếu ở các sông suối lớn của miền tây xứ Nghệ. Loài cá này mấy năm trở lại đây được tôn làm vua trong hàng đặc sản, giá bán 650 700 ngàn đồng/kg.
Chính vì thế, nhiều người đã sắm đồ nghề suốt ngày đêm bám trụ nơi thuợng nguồn các dòng sông, dòng suối để săn cá lăng đem bán...
Cá lăng chuẩn bị lên đĩa
Cả làng đi câu
Anh Lương Văn Mon ở bản Lỏm (xã Xá Lượng, Tương Dương), một tay thợ săn cá lăng cự phách, cho biết: "Tui trước đây câu cá lăng để về cải thiện bữa ăn thôi, nhưng câu nhiều ăn không hết thì bán. Cá lăng đắt khoảng 10 năm trở lại đây chứ trước cũng bình thường như các loài cá khác. Có những ngày tui câu được vài, ba chục con về bán cho các nhà hàng".
Anh Mon kể: "Kỉ niệm "hoành tráng" nhất trong đời đi câu của tui là câu được con cá lăng 21,7 kg nơi Cửa Rào. Con cá ni dính câu, trong lúc chạng vạng tối. Khi dính câu, tui giật thì bỗng dưng hắn quậy cái sầm làm tui sởn cả da gà tưởng là ma. Sau định thần lại mới biết đó là con cá lớn. Tui dòng cho hắn liệt rồi mới từ từ "mời" lên bờ nhưng nó chui vô hốc đá. Tui nhảy xuống điệu ra, bất ngờ hắn vọt thẳng vô "bộ hạ" làm tui choáng ngất luôn. May lúc đó có người đi hái măng trông thấy cứu được tui và lôi được cả con cá lăng lên. Con cá đó tui bán được 2 triệu đồng (năm 2000). Hồi đó chứ bây giờ có được con cá như vậy bán hơn tiền cả con trâu mộng".
"Cũng từ đó nhiều người, già có trẻ chăn trâu có, sắm đồ nghề suốt ngày đêm đi câu cá lăng. Nhiều người câu nên cá dần cũng cạn nên tui rủ anh bạn nữa đi sông Giăng (huyện Con Cuông) và suối Piệt, sông Chu (Quế Phong) để câu. Hầu như các sông suối lớn ở miền tây Nghệ An tui đặt câu hết rồi. 2- 3 năm trở lại đây không biết răng mà giá cá lăng tăng vọt. Bọn tui bán 400 - 500 ngàn một cân. Nhờ nghề câu mà tui tậu được con xe máy và cái nhà sàn ni đó".
Câu cá giữa dòng rất nguy hiểm
Anh Mon chia sẻ: "Cá lăng sống ở tầng đáy nơi nước chảy xoáy, càng xoáy mạnh cá lăng nơi đó càng nhiều, nên khó cho mồi xuống. Nhưng buổi chiều đến cá lăng cũng ở hang, hốc, eo nước yên của sông. Cái quan trọng nữa là lưỡi câu và dây câu phải bền vì cá lăng khỏe và có hàm răng rất sắc. Lưỡi câu tui tự chế qua nhiều lần lửa và ngâm với thứ nước lá cây bí truyền mới trụ được".
Hiện nay nhiều người bỏ cả ruộng nương lao vào cơn sốt cá lăng để rồi cuối cùng họ vẫn ở trong những ngôi nhà tàn tạ, ruộng nương cỏ mọc đầy. Người đi câu cá lăng không phải ai cũng may mắn tậu được nhà như Mon. Đây cũng là một nghề nguy hiểm, đôi khi phải đánh đổi cả mạng sống của mình. "Một mình trên sông với những thác ngầm cuồn cuộn, lỡ sẩy chân nước cuốn phăng là truốt luôn, câu đêm lỡ gặp lũ quét cũng đứt, chưa nói là rừng thiêng, nước độc, gặp phải rắn độc nữa. ở Lưỡng Minh đã có 2 người chết đuối vì câu cá lăng rồi" - Anh Mon kể.
Vua đặc sản có nguy cơ tuyệt chủng
Cá lăng là loài cá thịt, trắng, chắc, ít xương dăm, thơm ngon, bổ dưỡng và có khả năng chữa bệnh. Cá lăng có thể nấu được rất nhiều món như: Thịt cá lăng ướp gia vị nướng than hồng, ướp gừng quấn mỡ chài rán, xào sả ớt, gỏi; cá lăng nấu canh chua, nấu măng, lẩu... Đặc điểm của thịt cá lăng là hợp với tất cả các loại phụ gia và rau củ nấu với nó. Hiện nay thịt cá lăng được đánh giá là ngon trong các loài cá và cũng là loài cá quý hiếm có giá bán vào loại đắt nhất Việt Nam.
Thượng nguồn sông Cả - nơi trước đây có rất nhiều cá lăng
Chị Hằng, chủ một nhà hàng ở thị trấn Hòa Bình (Tương Dương) cho biết: "Cá lăng rất được thực khách ưa chuộng, quán chị mỗi ngày tiêu thụ khoảng vài yến cá lăng nhưng nay có ngày khách yêu cầu nhưng không có. ở thị trấn nhỏ này nhưng có tới 32 nhà hàn, mỗi ngày tiêu thụ một số lượng cá lăng rất lớn. Chưa nói đến là một vài lái buôn thu gom để đưa đi Vinh, Hà Nội bán. Giá bán nơi đây khi cao điểm lên tới 700 ngàn đồng/kg".
Tay câu cự phách Lương Văn Mon thở dài: "Nhiều người săn lùng quá, không những hàng trăm người suốt ngày đêm mai phục câu cá lăng trên các dòng sông, dòng suối mà còn một số người còn dùng cả thuốc nổ và kích điện để đánh bắt nên nay cá lăng cực hiếm. Tui mấy ngày qua đi bở hơi tai, chầu chực trên sông cả ngày mà chỉ được có một con bằng cổ tay. Cứ đà ni thì tui giải nghệ thôi".
Do môi trường bị suy thoái vì nạn phá rừng, đắp đập, đào đãi vàng ở lòng sông, đặc biệt là ảnh hưởng của những đập thủy điện lớn chắn ngang các dòng sông làm mất bãi đẻ của cá, bên cạnh đó việc khai thác quá mức bằng những phương tiện hủy diệt như dùng xung điện, thuốc nổ, chất độc và những phương tiện khai thác khác nên loài cá lăng hiện nay trên các dòng sông xứ Nghệ đang ngày một cạn kiệt và có nguy cơ tuyệt chủng.
Cá lăng là loài cá có giá trị kinh tế cao của hệ thống sông miền tây xứ Nghệ. Trước thảm họa hủy diệt của con người như vậy loài cá này cần được bảo vệ và nhân giống. Theo những hộ dân sống ở thượng nguồn sông cả thì họ cũng đã từng nuôi cá lăng trong bể nước. Loài cá này tạp ăn và sống khỏe ở mọi thời tiết, rất dễ nuôi.
Vì vậy việc bảo vệ và nhân giống cá cá lăng đưa vào nuôi là điều hết sức cấp thiết. Nó không những bảo tồn được loài cá quý hiếm khỏi nguy cơ tuyệt chủng mà còn là cơ hội để xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây.

Dễ nuôi như cá trắm cỏ


Cá trắm cỏ tuy không phải là loài cá có chất lượng cao nhưng lại được bà con ta nuôi nhiều vì nó dễ nuôi và mau lớn. Nó là loài cá nước ngọt, thường được thả nuôi ở ao, hồ hoặc nuôi trong lồng, bè trên sông.

Có 2 loại cá trắm là trắm đen và trắm trắng. Thức ăn chủ yếu của chúng là thực vật như rong, bèo, lá ngô, cỏ... Cá trắm cỏ có khả năng sinh sản ở thời kỳ 2-3 tuổi khi cá đực khoảng 1kg và cá cái khoảng 2kg.
Hiện nay, cá trắm cỏ được nuôi khá phổ biến. Nuôi chúng sau 1 năm có thể đạt từ 0,8-1,2kg/con. Nuôi 2 năm đạt từ 1,5-2,5kg/con hoặc cao hơn nữa (có con nặng tới 4kg). Có tài liệu cho biết nếu cá sống ở môi trường thuận lợi thì sau 3 năm có có thể đạt tới 9-12kg/con.
Nếu nuôi trong ao, ta phải lo khâu tẩy dọn ao thật tốt. Nếu có điều kiện, nên tát cạn, vét bớt bùn, rắc vôi, phơi ao, bón lót cho ao phân chuồng hoai mục và cả phân xanh. Sau đó cho nước vào. Nước cần được lọc qua đăng hoặc qua lưới để loại trừ các loài cá dữ hay cá tạp lọt vào ao. Cá ưa nước sạch. Vì vậy, phải giữ cho nguồn nước của ao không bị ô nhiễm.
Ta có thể thả cá vào vụ xuân (tháng 2-3) hoặc vụ thu (tháng 8-9). Nên thả cá kịp thời, nhanh, gọn để thời gian nuôi cá được dài. Cá giống phải khỏe mạnh, lưng dày, vây vẩy hoàn chỉnh, màu sắc sáng bóng, nhiều nhớt, không có biểu hiện của bệnh tật. Ta nên thả với mật độ 1-2 con/m2 (cá cỡ 8-10cm).
Thức ăn cho cá gồm các loại cỏ, rong, bèo, lá chuối, lá ngô, lá sắn... Cũng có thể cho cá ăn thêm cám ngô, cám gạo.
Nuôi sau 6 tháng là đã có thể đánh tỉa số cá lớn. Tới cuối năm thì thu toàn bộ. Nên nuôi trong lồng, bè trên sông, hồ thì cần lưu ý: Ở sông, tốc độ dòng chảy phải đạt từ 0,2-0,3m/giây; ở hồ chứa thì phải đạt từ 0,1-0,2m/giây.
Lồng có thể làm bằng tre, bằng gỗ hoặc bằng composit. Khe hở phải rộng từ 0,5-1cm để nước dễ dàng chảy qua. Đáy lồng và 2 mặt bên có thể ghép bằng gỗ để tránh thức ăn trôi đi mất. Trong lồng, bè, ta có thể thả cá với mật độ từ 70-80 con/m3 (với cỡ cá từ 8-10cm). Nếu cá giống có cỡ lớn hơn, ta có thể rút bớt với mật độ 30-40 con/m3. Trước khi thả, ta nên khử trùng cá bằng cách cho chúng tắm nước muối 3% trong vòng 10-15 phút. Ở miền Bắc, nên thả cá vào đầu tháng 4 khi trời hết rét. Còn ở phía Nam, ta có thể thả quanh năm.
Do nuôi tập trung, mật độ dày nên thức ăn phải luôn đảm bảo cả về chất lượng và số lượng. Hàng ngày ta phải vớt các phần mà cá không ăn được để giữ sạch cho nước. Phải theo dõi thường xuyên hoạt động của cá. Nếu nó nổi đầu là thiếu oxy.
Nếu thấy nó bơi lội hoảng loạn là phải vớt cá lên kiểm tra (có thể do trùng bánh xe, do trùng quả dưa, do sán lá đơn chủ hoặc do nấm thủy vi). Ta có thể dùng vôi bột hoặc sun phát đồng (CaS04) để loại trừ bệnh. Nuôi cá trắm cỏ không khó mà cho ta năng suất cao. Cứ có mặt nước là nuôi được cá trắm cỏ.

Đặc điểm sinh học sinh thái của cá rô phi


1. Phân loại: 
Dựa vào đặc điểm sinh sản, người ta chia cá rô phi thành 3 giống:
  • Tilapia (cá đẻ cần giá thể)
  • Sarotherodon (Cá bố hay cá mẹ ấp trứng trong miệng)
  • Cá rô và Oreochromis (Cá mẹ ấp trứng trong miệng)
Cá rô phi hiện đang nuôi phổ biến ở Việt Nam thuộc:
Bộ cá vược - PerciForms
Họ - Cichlidae
Giống - Oreochromis
Loài - Cá rô phi vằn O.niloticus.
Hiện nay có 3 loài chính được phổ biến tại Việt Nam là :
  • Cá rô phi cỏ Oreochromis Mossambicus, được nhập vào Việt Nam năm 1953 từ Thái Lan.
  • Cá rô phi văn (Rô phi Đài Loan  O.niloticus) được nhập vào Việt Nam năm 1974 từ Đài Loan.
  • Cá rô phi đỏ (red Tilapia), có màu hồng được nhập vào Việt Nam năm 1985 từ Maliaxia.
2. Đặc điểm hình thái:
Cá rô có thân hình màu hơi tím, vảy sáng bóng, có 9-12 sọc đậm song song nhau từ lưng xuống bụng. Vi đuôi có màu sọc đen sậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân bổ khắp vi đuôi. Vi lưng có những sóc trắng chạy song song trên nền xám đen. Viền vi lưng và vi đuôi có màu hồng nhạt.
Phân biệt cá đực, cá cái: 
ĐẶC ĐIỂM PHÂN BIỆT
CÁ ĐỰCCÁ CÁI
ĐầuTo và nhô caoNhỏ, hàm dưới trề do ngậm trứng và con
Màu sắc
Vi lưng và vi đuôi sặc sỡMàu nhạt hơn
Lỗ niệu sinh dục
2 lỗ: lỗ niệu sinh dục và lỗ hậu môn3 lỗ: lỗ niệu. lỗ sinh dục và lỗ hậu môn.
4. Môi trường sống: Các loài cá rô phi hiện đang nuôi có đặc điểm sinh thái gần giống nhau.  
Nhiệt độ: 
Nhiệt độ cần thiết cho sự phát triển của cá rô phi từ 20-32oC, thích hợp nhất là 25-32oC. khả năng chịu đựng với biến đổi nhiệt độ cũng rất cao từ 8-42oC, cá chết rét ở 5,5oC và bắt đầu chết nóng ở 42oC. Nhiệt độ càng thấp thì cá càng giảm ăn, ức chế sự tăng trưởng và tăng rủi ro nhiễm bệnh.
Độ mặn:
Cá rô phi là loài rộng muối, có khả năng sống được trong môi trường nước sông, suối, đập tràn, hồ ao nước ngọt, nước lợ và nước mặn có độ muối từ 0-40‰.
Trong môi trường nước lợ (độ mặn 10-25‰) cá tăng trưởng nhanh, mình dày, thịt thơm ngon.
pH:
Môi trường có độ HP từ 6,5-8,5 thích hợp cho cá rô phi, nhưng cá có thể chịu đựng trong môi trường nước có độ PH thấp bằng 4.
Oxy hoà tan:
Cá rô phi có thể sống được trong ao, đìa có màu nước đậm, mật độ tảo dày, có hàm lượng chất hữu cơ cao, thiếu Oxy. Yêu cầu hàm lượng oxy hoà tan trong nước của cá rô phi ở mức thấp hơn 5-10 lần so với tôm sú.
5. Đặc điểm về dinh dưỡng và sinh trưởng.
Tập tính ăn: 
Khi còn nhỏ, cá rô phi ăn dinh vật phù du (tảo và động vật nhỏ ) là chủ yếu ( cá 20 ngày tuổi , kích thước khoảng 18mm). Khi cá trưởng thành ăn mùn bả hữu cơ lẫn các tảo lắng ở đáy ao, ăn ấu trùng, côn trùng, thực vật thuỷ sinh. Tuy nhiên trong nuôi công nghiệp cá cũng ăn các loại thức ăn chế biến từ cá tạp, cua, ghẹ, ốc, bột cá khô, bột bắp, bột khoai mì, khoai lang, bột lúa, cám mịn, bã đậu nành, bã đậu phộng.Trong thiên nhiên cá thường ăn từ tầng đáy có mức sâu từ 1-2m.
Sinh trưởng:
-  Khi nuôi trong ao, cá sử dụng thức ăn tự nhiên sẵn có kết hợp với thức ăn chế biến, cá rô phi vằn đơn tính lớn nhanh từ tháng đầu đến tháng thứ 5-6.
Tạp chí thuỷ sản